| Luật sư: Phan Huy Đức |
Doanh nghiệp là một tổ chức, không phải là thể nhân, vì thế doanh nghiệp không thể tự xác lập quyền và nghĩa vụ của mình mà phải thông qua người đại diện theo pháp luật, đó là một cá nhân. Để đảm bảo sự hoạt động liên tục của doanh nghiệp đòi hỏi chức danh người đại diện theo pháp luật phải có tính thường trực.
Trong thực tiễn, có không ít trường hợp, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp đột nhiên không còn đủ điều kiện để làm người đại diện theo luật định như: “chết, mất tích, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc, trốn khỏi nơi cư trú, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định”. Trước thời điểm 01 tháng 7 năm 2015([1]), khi các tình huống này xảy ra, cả doanh nghiệp cũng như các bên hữu quan đều lúng túng trong việc xử lý vì không tìm được quy định cụ thể trong luật. Từ thực tế đó, đòi hỏi Luật Doanh nghiệp phải đưa ra những quy định rõ ràng hơn, dự liệu được nhiều tình huống hơn liên quan tới người đại diện theo pháp luật ([2]).
Luật Doanh nghiệp 2014 ra đời đã mang lại sự thay đổi rất lớn và rõ nét trong quy định về người đại diện theo pháp luật. Có thể nói, Luật Doanh nghiệp 2014 đã giải quyết khá tốt các vấn đề liên quan tới người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp khi dành Điều 13 để quy định về người đại diện theo pháp luật với nhiều nội dung cụ thể, dự liệu được nhiều tình huống có thể xảy ra và các giải pháp cho doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp 2020 đã tiếp tục kế thừa và đồng thời sửa đổi, bổ sung thêm những nội dung mới để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn liên quan tới chức danh người đại diện theo pháp luật tại Điều 12. Mặc dù vậy, có tình huống mà cả Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Doanh nghiệp 2020 vẫn chưa dự liệu đến nên chưa đưa ra giải pháp khắc phục phù hợp.
Theo quy định tại khoản 6 Điều 12 Luật Doanh nghiệp 2020 (“Điều 12.6”)([3]) thì: “Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên, nếu có thành viên là cá nhân làm người đại diện theo pháp luật của công ty chết, mất tích, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc, trốn khỏi nơi cư trú, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của Hội đồng thành viên về người đại diện theo pháp luật của công ty.” Điều 12.6 không quy định đối với trường hợp có thành viên là tổ chức.
Giả sử xảy ra tình huống: Công ty TNHH X có 2 thành viên là cá nhân Nguyễn Văn A và Công ty TNHH B; Trong đó, Nguyễn Văn A là người đại diện theo pháp luật duy nhất của công ty. Nếu Nguyễn Văn A chết, vậy lúc này ai sẽ là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH X? Tình huống cũng có thể xảy ra với trường hợp công ty TNHH 2 thành viên trở lên, trong số thành viên của công ty chỉ có một thành viên là cá nhân, các thành viên còn lại là tổ chức và thành viên là cá nhân này cũng làm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
Chắc chắn lúc này, thành viên còn lại là Công ty TNHH B không thể làm người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH X. Bởi từ góc độ lý luận cũng như quy định của pháp luật thì chỉ cá nhân mới có thể làm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Do đó, không thể áp dụng quy định tại Điều 12.6 là “thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của Hội đồng thành viên về người đại diện theo pháp luật của công ty”.
Hơn thế nữa, việc chờ để xác định ai là người thừa kế hợp pháp phần vốn của cá nhân Nguyễn Văn A trong Công ty TNHH X không phải lúc nào cũng dễ dàng và cũng sẽ tốn không ít thời gian với nhiều thủ tục pháp lý. Chỉ sau khi xác định rõ ai là người thừa kế hợp pháp phần vốn này của Nguyễn Văn A thì người/những người thừa kế này mới thực hiện được các thủ tục để tham gia vào Công ty TNHH X với vai trò là thành viên công ty. Tiếp sau đó, Công ty tổ chức họp hội đồng thành viên để quyết định về người đại diện theo pháp luật mới của mình. Với rất nhiều trình tự và thủ tục cần xử lý, ắt hẳn cần nhiều thời gian và ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp.Trong khi đó, doanh nghiệp không thể không có người đại diện theo pháp luật, bởi như đã phân tích ở trên, đây là chức danh mang tính thường trực, không thể thiếu của doanh nghiệp.
Những phân tích lập luận ở trên cho thấy, Điều 12.6 còn khiếm khuyết khi chưa dự liệu được trường hợp có thành viên là tổ chức nên khi xảy ra tình huống thành viên cá nhân làm đại diện theo pháp luật không còn đủ điều kiện làm đại diện thì không có hướng xử lý phù hợp. Mặt khác, điều khoản này là một quy định đóng, không đề cập đến khả năng điều lệ của công ty có thể khắc phục khiếm khuyết của luật. Nói cách khác, Điều 12.6 là một quy định bắt buộc, không cho phép doanh nghiệp có quyền tùy chọn.
Vì vậy để khắc phục những bất cập có thể xảy ra như tình huống trong ví dụ trên, thiết nghĩ, Điều 12.6 nên được chỉnh sửa, bổ sung theo 2 hướng:
Một là, có thể cho phép thành viên là tổ chức được phép chọn người đại diện phần vốn của mình làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho tới khi có đủ điều kiện để xác định được ai là thành viên còn lại của công ty.
Hai là, có thể cho phép điều lệ của công ty có một cách giải quyết khác.
| [1] Thời điểm Luật Doanh nghiệp 2014 có hiệu lực.
[2] Bộ luật Dân sự 2005 tuy có đề cập tại Điều 141 và sau đó Bộ luật Dân sự 2015 có sửa đổi bổ sung quy định về người đại diện theo pháp luật của pháp nhân tại Điều 137 những vẫn còn sơ lược, mang tính liệt kê. [3] Trong luật Doanh nghiệp 2014 là khoản 6 Điều 13 |
